Nhà Lý đặt thành Thăng Long

Lý Công Uẩn, người làng Cổ Pháp (Bắc Ninh). Xung quanh ngài có rất nhiều truyền thuyết, không dám lạm bàn. Chỉ xin bàn đến cái việc Nhà Lý dời đô ra Thăng Long.
Lý Thái Tổ được dạy dỗ bởi hai nhà sư: Lý Vạn Hạnh và Lý Khánh Văn (hai anh em ruột). Đây là hai đại tôn sư rất uyên thâm, gồm cả tài đức, đều được phong Quốc sư. Có lẽ trong quá trình nuôi dạy Lý thái tổ, hai vị tôn sư này đã nhìn thấy cái chân mệnh thiên tử của Ngài nên đã có hướng cho một triều đại mới. Bởi vậy mà ngay từ khi còn nhỏ tuổi, Lý đế đã được đào tạo rất công phu kiêm cả văn võ. Cái quá trình chuẩn bị cho ngài lên ngôi đã được sắp đặt rất kỹ càng bằng các biện pháp gây thanh thế trong lòng dân chúng bằng các bài sấm ký, đồng giao, bằng các điềm báo thiên nhiên, chỉ qua một sự việc về cây gạo làng Dương lôi (nơi Lý thái tổ sinh sống khi chưa nhập kinh) bị sét đánh, trong thớ gỗ xuất hiện bài thơ nói rằng Nhà Lý sẽ thay nhà Lê, đã minh chứng cho một sự chuẩn bị rất chu đáo của hai nhà sư Lý Vạn Hạnh và Lý Khánh Văn (cái này thuộc về lịch sử, không bàn nữa). Nhưng đáng chú ý là việc chuẩn bị cho công cuộc dời đô của nhà Lý.

Nhà sư Lý Vạn Hạnh là một người cực giỏi địa lý, ngài đã nghiên cứu rất nhiều về thế đất thành Thăng Long. Lẽ tất nhiên Ngài phải biết cái thế đất ấy muốn dùng được thì phải trấn được Bạch Hổ mới có thể lập kinh đô. Chính vì vậy, sau khi nên ngôi, Nhà Lý đã cho dời đô ra Thăng Long. Trong quá trình xây dựng thành Lý Vạn Hạnh đã tiến hành trấn yểm ở nhiều điểm, nhưng điểm cốt lõi vẫn là nơi mà trước kia Cao Biền đã thất bại – đó chính là Thủy Khẩu.
(Nếu nghiên cứu về địa lý thì ai cũng biết rằng vị trí của Thủy Khẩu quan trọng như thế nào đối với một ngôi đất, nó đóng vai trò như cái yết hầu của con người, bởi vậy việc trấn yểm nếu thực hiện tại vị trí này thì có thể khống chế cả cuộc đất. Nói như vậy nhưng nếu trấn yểm tại Thủy Khẩu là nơi khí tụ trước khi đổ vào minh đường để nuôi dưỡng huyệt mạch thì sẽ vô cùng khó khăn vì nơi ấy khí lực cực mạnh. Một ngôi đất tốt, nhưng nếu thủy khẩu bị chặn lại, nước không đem khí mạch đến đc, ắt sẽ sinh họa ngay. Vì thế nên có câu phú “đăng sơn tầm tổ tông, đáo xứ vấn thủy khẩu” đó là điều đầu tiên phải làm).

Việc Lý Vạn Hạnh thực hiện trấn yểm như thế nào, đó là một điều không thể nói. Nhưng chúng ta chỉ cần biết rằng ông đã thành công. Ông đã trị được con sông Tô lịch, khống chế được Bạch Hổ. Từ đó đất Thăng Long đã trở thành đế đô muôn đời cho các triều đại, ngày càng hưng thịnh. Việc làm này của sư Lý Vạn Hạnh được thành công cũng là nhờ thần thiêng sông núi, giúp cho con cháu nước Nam trấn giữ được kinh thành, để mà có được cái thế đất Anh Hùng Vạn Cổ. Đấy là hồn thiêng Đất Việt đã giữ gìn ngôi đất bao đời để trao lại cho cháu con Lạc Việt, mà không cho kẻ ngoại bang xâm phạm.
Quay lại với các sự việc về trận đồ bát quái được tìm thấy, các nhà khảo cổ đã chứng minh rằng các di vật tìm thấy là thuộc đời Lý. Vì vậy, quan điểm cho rằng trận đồ này do Cao Biền lập là không có cơ sở, hẳn nhiên không phải là các di vật này “sau này mới rơi xuống” như một số quan điểm. Nên biết rằng từ khi Cao Biền tiến hành trấn yểm đến đời Lý là khoảng hơn 200 năm – sông lấp sóng bồi, vậy mà sao khi phát hiện, các di vật đều cùng một niên đai, đều cùng một địa tầng – đó là một điều vô lý. Nhưng nếu nó là tác phẩm của Lý Vạn Hạnh thì hoàn toàn có lý, bởi vì như trên đã dẫn, Nhà Lý khi dời đô ra Thăng Long đã xây dựng tòa thành mới mà không dùng thành Long Biên như các thế hệ trước.
(Nói thêm về phần địa lý : Khi phân tích kiểu đất Nam Việt, Có nhiều quan điểm cho rằng Sông Hồng là Thanh Long là chưa đúng. Chúng ta biết rằng Thanh Long hay Bạch Hổ đều là núi, là đất, là nơi ôm giữ khí mạch cho huyệt. Còn sông suối chỉ là huyết mạch, dẫn khí nhập huyệt. Khi long đình nhập huyệt, khí chỉ tại minh đường để từ đó nuôi dưỡng huyệt kết nên khi tầm long tróc mạch phải tìm đến chỗ mà có “long đình, chỉ khí” mới là chân huyệt. Còn riêng thế đất Thăng Long, ta biết rằng Côn lôn sơn là thái tổ sơn, khí mạch xuất phát từ đây, đi xuống phía Nam, qua hai thiếu tổ sơn là Vân Lĩnh, Đan Sơn, đều thuộc tỉnh Vân Nam, sau đó chuyển về Việt Nam, chia ba chi : Quảng Ninh là tả chi, Thăng Long là trung chi, Thanh Nghệ là hữu chi (đất Thanh Nghệ lại chia làm ba tiểu chi nữa), kết tại Thăng long là chính huyệt. Nếu quan sát một cách tổng thể trên bản đồ vệ tinh, ta sẽ nhìn thấy ngay đường đi của mạch, khi qua biên giới, mạch đi rất trực, tiến thẳng xuống phía Nam, kết tại Hà Nội. Mà theo như cụ Tả Ao thì “Mạch thô đi chẳng khép vào, vốn đi một chiều ấy mạch phát dương”. Ta đã biết, mạch có MẠCH ÂM, MẠCH DƯƠNG. Nếu mạch phát âm cơ thì là đất để mộ, nếu mạch phát dương cơ thì là đất làm nhà, làm doanh trại, làm thành phố, hoặc lớn như Thăng Long là làm kinh đô. Mô tả về điều này sách viết :
“Tiên vấn tổ tôn giả, tổ giả, đột khởi nhất sơn vi tổ, phân hành thiên chi vạn điệp, như Côn lôn sơn đột khởi vi tổ sơn, thị dã. Tôn giả ly tổ biệt khởi nhất sơn vi tôn, phân hành Đông ngung, Tây lũng, như Vân Lĩnh, Đan sơn giáng Nam, thị dã” – Trước tiên phải hỏi đến tổ tôn, Tổ là một ngọn núi đột khởi lên, rồi phân hành ra ngàn vạn chi nhánh, như núi Côn Lôn một mình cao vọt nên là Tổ sơn. Tôn là mạch tự khi rời Tổ sơn rồi cũng lại cao vọt lên riêng biệt, phân ra Đông ngung, Tây lũng, như núi Vân lĩnh, Đan sơn cao vọt nên rồi đổ xuống phía Nam vậy).

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *